Chính sách thống trị của Mãn Thanh

     Trong quá trình chinh phục Trung Quốc, đối với những nơi kiên quyết kháng chiến, quân Thanh thi hành chính sách huỷ diệt. Ví dụ : thành Dương Châu (Giang Tô) sau khi thất thủ đã bị quân Thanh tàn sát trong 10 ngày, số dân bị giết chết và phải chạy trốn lên đến hơn 800.000 người. Đông thời, hễ chiếm được nơi nào, quân Thanh đều bắt nhân dân Trung Quốc phải theo một số phong tục tập quán của người Mãn Châu mà trước hết là bắt phải cạo tóc theo kiểu người Mãn. Nhân dân Trung Quốc phản đối thì quân Thanh ra lệnh : “Muốn để đầu thì đừng dể tóc, muốn, để tóc thì đừng để đầu”. Tuy thế, nhiều nơi nhân dân Trung Quốc vẫn kiên quyết chống lại v.à trả lởi rằng : “Đầu có thể đứt, tóc không thể cạo”.

Chính sách thống trị của Mãn Thanh

      Đông thời với quá trình chinh phục, nhà Thanh ra sức củng cố bộ máy nhà nước chuyên chế tập quyền trung ương và thi hành chính sách áp bức dân tộc. Người Hán tuy cũng được làm quan, nhưng mọi quyền hành đểu do quan lại người Mãn nắm giữ. Nếu chức vụ ngang nhau thì phẩm hàm của người Mãn cũng cao hơn, có một số chức vụ như chỉ huy quân đội đóng ở các tỉnh thì chỉ người Mãn mới được đảm nhiệm. Ngoài ra, nhà Thanh còn thẳng tay trấn áp mọi hoạt động hoặc biểu hiện tư tưởng chống lại người Mãn, do đó đã gây nên nhiều vụ án văn tự. Ví dụ, năm 1663, Trang Đình Long vì chuẩn bị in quyển Minh thư tập lược, trong đó có nhiều lời lẽ chông Mãn Thanh, nên tuy đã chết mà vẫn bị quật mộ lên để chém thây. Những người viết lời tựa, khắc in, bán sách, đọc sách, giữ sách đều bị xử tử, tất cả đến 72 người.

      Nhưng mặt khác, nhà Thanh lại thi hành chính sách mua chuộc giai cấp địa chủ người Hán, bảo vệ quyền lợi ruộng đất của họ, thu hút nhiều trí thức Hán tộc vào bộ máy quan lại, đề cao Nho học. Lại có vua Thanh như Khang Hi (1662 – 1722) tuyên bố : “Mãn Hán là một”. Đối với nhân dân, giai đoạn đầu, nhà Thanh cũng giảm nhẹ tô thuế, khuyến khích khai khẩn đất hoang, nên nhân dân đỡ bị bọn này hà hiếp.

       Do chính sách hai mặt đó, nên thời kì đầu tuy xã hội Trung Quốc có tồn tại mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc, nhưng không gay gắt bằng thời Nguyên. Nhưng từ cuối thế kỉ XVIII về sau, giai cấp thống trị xa xỉ, quan lại tham ô, ruộng đất tập trung vào tay giai cấp địa chủ, nên nhân dân càng cực khổ. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân đã nổ ra.

       Nghe nói buôn bán với Bồ Đào Nha có lợi, nên Trung Quốc lại mở cửa Quảng Châu. Năm 1553, nhân việc thuyền gặp bão, người Bổ Đào Nha xin được lên bờ Áo Môn phơi hàng hoá bị ướt. Nhờ đút lót cho quan địa phương, họ được lên cư trú ở Áo Môn và đến năm 1557 thì bắt đầu xây dựng nhà cửa, pháo đài, thành quách, dần dần biến mảnh đất này thành thuộc địa của họ.

       Sau người Bồ Đào Nha là người Tây Ban Nha. Năm 1570, họ chiếm được Luxôn (Philíppin). Năm 1575, một băng cướp biển Trung Quốc bị đuổi chạy sang Luxồn. Người Tây Ban Nha phối hợp với quan quân Trung Quốc tiêu diệt được băng cướp đó nên được đến buôn bán ở Chương Châu (Phúc Kiến).



Những cuộc chiến tranh xâm lược Miến Điện và Đại Việt

       Cương giới của đế quốc Thanh tuy đã rất rộng lớn, nhưng nhà Thanh vẫn muốn tiếp tục mở rộng xuống phía nam.

       Năm 1766, viện lí do Miến Điện xâm phạm biên giới, nhà Thanh sai Dương Ứng Cư đem quân sang đánh. Vua Miến Điện giả vở để nghị giảng hoà rồi tập trung lực lượng đánh bại quân Thanh. Dương Ứng Cư bị cách chức và buộc phải tự sát.

       Năm 1767, vua Càn Long cử con rể của mình là Minh Thụy và tướng Ngạch Nhĩ cảnh Ni chia hai đường tiến quân vào Miến Điện. Những nơi quân Thanh đi qua, Miến Điện đều thi hành chính sách vườn không nhà trống làm cho quân giặc bị khốn đốn về lương thực. Hơn nữa,Ngạch Nhĩ Thái mới cùa Cảnh Ni lại bị chết ở dọc đường nên hai cánh quân không thể gặp nhau ở kinh đô A Va như kế hoạch dự định. Trước tình thế khó khăn như vậy,Minh Thuy phải rút lui nhưng dọc đường bi quân Miến Điên đón đánh nên cay cú vì thất bại, năm 1769, nhà Thanh cử Phó Hằng cùng nhiều tướng lĩnh khác chỉ huy một đội quân viễn chinh rất lớn ồ ạt tấn công Miến Điện lần thứ ba. Lúc đầu, quân Miến Điện bị thua, phải rút về cố thủ ở Ca Ưng Tôn. Tại đây, quân Thanh bị đánh trả quyết liệt, hơn nữa vì khí hậu không quen, dịch bệnh lan tràn, bản thân Phó Hằng cũng mắc bệnh tả, quân Thanh hết sức bi quan, nao núng.

Những cuộc chiến tranh xâm lược Miến Điện và Đại Việt

       Không có con đường nào khác, Càn Long phải ra lệnh rút quân về nước. Tuy nhiên để giữ thể diện, Càn Long phải hạ chiếu giải thích lí do của quyết định quan trọng đó.

      Sau đoạn huênh hoang về những thắng lợi của quân Thanh như: “liên tiếp chiếm được trại giặc”, “việc hạ các trại chỉ tính ngày để lấy”, tờ chiếu viết tiếp : “Nhưng đất đai của chúng thuỷ thổ ác liệt, quan binh ở đó phần nhiều sinh bệnh tật, ngay các quan đại thần chi huy cũng có kẻ bị bệnh mà chết. Do đó, bắt quân sĩ dũng cảm của ta phải nếm mùi chướng độc lòng cảm thấy không nỡ…Trẫm cho rằng uy nước không thể không phô trương, nhưng đã nhiều lần đoạt được trại, giặc chết ngổn ngang, như vậy cũng đã tỏ rõ được uy vũ của ta. Vả lại khí hậu nóng độc không hợp, quân ta không nên ở lâu, quả thực là do hạn chế về mặt địa thế chứ không phải do binh lực không nhiều, lương thực khí giới không đủ.Trẫm nhất thiết phải thuận theo đạo trời mà làm, nay xét thời thế, tự biết khó khăn mà rút lui”

      Đối với nước ta, cuối năm 1788, dưới chiêu bài giúp đỡ họ Lê khôi phục ngai vàng, nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem hơn 20 vạn quân sang xâm lược. Quân Thanh đã tạm thời chiếm được Thăng Long, nhưng trong trận đánh tết Kỉ Dậu (1789), chúng đã bị quân dân ta dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung đánh cho đại bại. Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc áo giáp, ngựa không kịp đóng yên, vứt bở các sắc thư ấn tín, vội vàng chạy thoát thân về nước.

       Đây là cuộc chiến tranh xâm lược có quy mô lớn cuối cùng của triều Thanh.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: lịch sử thế giới

Thanh đối phó với “vụ loạn Tam phiên”

        Sau khi diệt được triều Nam Minh không lâu, triều Thanh lại phải đối phó với “vụ loạn Tam phiên”. Khi mới thành lập, triều Thanh đã phong vương cho một số tướng lĩnh Hán tộc làm tay sai, về sau còi lại ba vương là Ngô Tam Quế (được phong ở Vân Nam), Thượng Khả Hỉ (được phong ở Quảng Đông), Cánh Kế Mậu (được phong ở Phúc Kiến). Ba lãnh địa đó gọi chung là “Tam phiên” và trong ba vương ấy, mạnh nhất là thế lực của Ngô Tam Quế. Sự tồn tại của những lãnh địa nửa độc lập này rõ ràng là không có lợi cho nền thống trị củanhà Thanh. Vì vậy năm 1673, vua Khang Hi đã ra lệnh bở các phiên.

        Bị mất quyền lợi, ngay năm ấy Ngô Tam Quế nổi dậy chống lại nhà Thanh và hô hào hai phiên kia cùng phối hợp. Phong trào này đã lôi cuốn dược sự hưởng ứng của nhiều địa phương trong cả nước. Trịnh Kinh cũng từ Đài Loan đem quân tấn công vùng ven biển hai tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến. Tuy nhiên các lực lượng chống Thanh không có hành động thống nhất. Hai phiên họ Cánh và họ Thượng đến năm 1676 đã đầu hàng Thanh.

Thanh đối phó với “vụ loạn Tam phiên”

      Trong tình thế rắt khó khăn, năm 1678, Ngô Tam Quế vẫn xưng Hoàng đế, nhưng đã chết trong năm đó, cháu của Tam Quế là Ngô Phiên nối ngôi, nhưng thế lực đã rất suy yếu. Năm 1681, quân nhà Thanh  tấn công Vân Nam, Côn Minh thất thủ, Ngô Thế Phiên phải tự tử. Lúc bí giở, Cánh Kế Mậu đã chết, người con kế thừa là Cánh Tinh Trung bị giải về kinh đô xử tử. Như vậy, cuộc nổi dậy của “Tam phiên” đến đây bị dập tắt

       Tiếp đó, năm 1683, quân Thanh tấn công Đài Loan, lúc đó Trịnh Kinh đã chết, người con kế thừa là Trịnh Khắc Sảng phải đầu hàng. Đến đây mọi phong trào đấu tranh vũ trang chống Thanh đều chấm dứt.

       Sự hình thành đế quốc Thanh

       Trước khi thành lập triều Thanh, bằng các biện pháp lôi kéo hoặc tấn công, nước Hậu Kim đã thần phục được các tiểu quốc miển Nam Mông cổ. Sau khi thống trị Trung Quốc, triều Thanh tiếp tục thực hiện kế hoạch thôn tính miền Bắc và miền Tây Mông cổ. Lúc bấy giở, chi tộc Mông cổ cu trú ở miền Bắc gọi là người Khan Kha, cởn ở miển Tây, mạnh nhất là tộc Junke. Do mâu thuẫn nội bộ và do bị tộc Junke tấn công, năm 1697, tộc Khan Kha phải thần phục Thanh. Cởn tộc Junke thì đến năm 1757 cũng hoàn toàn bị đánh bại.

         Về phía đông nam, mục tiêu chinh phục của nhà Thanh là Tây Tạng. Vào thế kỉ XV, ở Tây Tạng xuất hiện một giáo phái mới của đạo Lạt ma gọi là phái Áo vàng để phân biệt với giáo phái cũ gọi là phái Áo đở. Giáo phái mới này do Đạt Lai và Ban Thiền đứng đầu. Đến cuối đởi Minh, giáo phái này đã truyền bá vào Mông cổ.

       Đầu đời Thanh, Đạt Lai V liên kết với người Mông cổ Junke để đấu tranh với giáo phái Áo đở, do đó tộc Mông Cổ này khống chế được chính quyền của Tây Tạng. Để dẹp các cuộc đấu tranh ở Tây Tạng, năm 1717, người Mông cổ Junke đem quân vào Tây Tạng. Lấy lí do giúp đỡ Tây Tạng chống sự xâm lược của người Mông cổ, năm 1718, nhà Thanh cũng đưa quân vào Tây Tạng, nhưng bị người Mông cổ đánh bại, vì vậy năm 1719 và 1720, nhà Thanh phải huy động đại quân mới đánh bại được người Junke rồi lập tay sai của mình lên làm người đứng đầu tồn giáo và chính quyền ở Tây Tạng. Từ năm 1727, Tây Tạng chính thức bị sáp nhập vào bản đổ đế quốc Thanh.

         Ở phía tây bắc, vùng Tân Cương ngày nay là nơi cư trú của người Duy Ngô Nhĩ (trước kia gọi là người Hổi Hột). Đầu đởi Thanh, vùng này bịngười Mông cổ Junke thống trị. Sau khi đánh bại người Mông cổ ở Tây Tạng, từ năm 1758 đến 1759, Thanh đã tấn công và chiếm được đất đai của người Duy Ngô Nhĩ và đặt tên là Tân Cương.

        Như vậy, trải qua một quá trình chinh chiến lâu dài, đến giữa thế kỉ XVIII, triều Thanh đã thôn tính được Mông cổ, Táy Tạng, Tân Cương, cùng với Mãn Châu và bản đồ của nước Minh cũ lập thành một đế quốc rộng lớn.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lich su the gioi

Những hoạt động bình định Trung Quốc của triều Thanh

      Bộ tộc lập nên triều Thanh vốn là một chi nhánh của người Nữ Chân. Đầu thế kỉ XII, một số chi tộc Nữ Chân đã thành lập nước Kim ở lưu vực Hoàng Hà, cởn một số bộ lạc khác vẫn cư trú ở miền Đông Bắc Trung Quốc ngày nay.


     Đầu thời Minh, người Nữ Chân chia làm ba bộ lạc mà Trung Quốc gọi là Kiến Châu, Hải Tây và Dã Nhân. Nói chung, cả ba bộ lạc ấy đang sống trong giai đoạn tan rã của xã hội thị tộc. Đến cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII, Nỗ Nhĩ Cáp Xích thống nhất được ba bộ lạc ấy, trên cơ sở đó, năm 1616, ông xưng làm Khan (vua) và cũng gọi tên nước là Kim (lịch sử gọi là Hậu Kim). Từ đó, Hậu Kim luôn luôn đem quân tấn cống và chiếm được nhiều đất đai của Trung Quốc. Năm 1627, tộc Kiến Châu được đổi thành Mãn Châu và đến năm 1636, tên nước cũng được đổi thành Thanh. Từ đó, nước Thanh càng tích cực chuẩn bị lực lượng để chờ thời cơ thôn tính cả Trung Quốc.

Những hoạt động bình định Trung Quốc của triều Thanh

       Năm 1644, ngay sau khi Lý Tự Thành thất bại phải rút khởi Bắc Kinh, vua Thanh liền chiếm lấy kinh thành và bắt đầu thống trị Trung Quốc.

      Từ đó, triều Thanh với tư cách là một triều đại phong kiến mới ở Trung Quốc chính thức thành lập.

      Tuy vậy, khi nghe tin chính quyền nhà Minh ở Bắc Kinh bị lật đổ, các quan lại ở Nam Kinh đã tôn một người trong hoàng tộc là Phúc Vương lên làm vua, lập nên chính phủ Nam Minh. Năm 1645, quân Thanh đánh chiếm Nam Kinh, Phúc Vương bở chạy, bị bộ hạ bắt nộp cho Thanh, nhưng tiếp đó, tại Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông đã lần lượt lập những người dòng dõi của nhà Minh lên làm vua và tiếp tục chống Thanh. Tuy Nam Minh có phối hợp với lực lượng tàn dư của quân khởi nghĩa nông dân, nhưng lực lượng vẫn quá yếu, vì vậy trước sự tấn công mạnh mẽ của quân Thanh, vua cuối cùng của Nam Minh là Quế Vương phải chạy sang Miến Điện. Ngô Tam Quế đem quân truy kích buộc vua Miến Điện phải giao Quế Vương, rồi đưa về Côn Minh (Vân Nam) treo cổ, triều Nam Minh diệt vong (1661).

      Trong quá trình ấy, nhiều tướng lĩnh yêu nước đã kiên cường bền bỉ chống Thanh mà người tiêu biểu nhất là Trịnh Thành Công. Năm 1661, để xây dựng căn cứ địa, Trịnh Thành Công đã đem 25.000 quân vượt biển ra Đài Loan. Với sự ủng hộ của nhân dân địa phương, Trịnh Thành Cổng đã đuổi được người Hà Lan (chiếm đảo này từ năm 1624), Trịnh Thành Công chết, con ông là Trịnh Kinh tiếp tục sự nghiệp của bố.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: lịch sử thế giới

Kế hoạch chống lại quân Minh

        Năm 1635, để bàn kế hoạch chống lại quân Minh, quân khởi nghĩa họp đại hội ở Huỳnh Dương (Hà Nam). Cao Nghênh Tưởng, Trương Hiến Trung, Lý Tự Thành được giao nhiệm vụ tấn công hướng Đông. Cánh quân này từ Hà Nam nhanh chóng tiến đến Phượng Dương (An Huy), đốt lăng tẩm của tổ tiên nhà Minh để tỏ rõ quyết tâm lật đổ nền thống trị của triều đại này.

         Sau đó, vì ý kiến không thống nhất, Cao Nghênh Tưởng, Lý Tự Thành dẫn một cánh quân quay về Hà Nam, còn Trương Hiến Trúng chỉ huy một cánh quân tiếp tục tiến xuống phía nam. Năm 1636, Cao Nghênh Tưởng tử trận, Lý Tự Thành trở thành người lãnh đạo của lực lượng khởi nghĩa ở miền Bắc.

        Năm 1638, nhà Minh huy động toàn bộ quân chủ lực đến tấn công quân nông dân. Lý Tự Thành và Trương Hiến Trung tạm thời phải lánh đi, lực lượng hoàn toàn tan rã. Nhưng chỉ một vài năm sau, Trương Hiến Trung và Lý Tự Thành lại nhanh chóng tập hợp quần chúng xây dựng lực lượng tiếp tục đấu tranh.

Kế hoạch chống lại quân Minh

        Lần này, trong hàng ngũ Lý Tự Thành có một số trí thức như Lý Nham, Ngưu Kim Tinh… tham gia. Chính họ đã giúp Lý Tự Thành vạch đường lối chiến lược và sách lược, trong đó có các khẩu hiệu như “trọng hiền sĩ”, “chia ruộng”, “miễn thuế” v.v… Nhở vậy, quân khởi nghĩa càng được nhân dân hoan nghênh, lực lượng càng phát triển nhanh chóng, và từ đó liên tiếp giành được thắng lợi.

        Năm 1644, Lý Tự Thành lên ngôi Hoàng đế ở Tây An (Thiểm Tây), đặt tên nước là Đại Thuận, lập bộ máy quan lại mới phân phong công thần khôi phục hệ thống tước vị quý tộc Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Tiếp đó, Lý Tự Thành tấn công và chiếm được Bắc Kinh. Vua Sùng Trinh nhà Minh phải treo cổ tự tử tại Bắc Kinh. Lý Tự Thành lên ngôi vua và bắt tay vào việc cùng cố chính quyền mới.

        Trong khi đó, viên Tổng binh của nhà Minh là Ngô Tam Quế, với 10 vạn quân ở trong tay, vẫn đóng ở Sơn Hải Quan mà nhiệm vụ của ông vốn là để phòng ngự sự xâm nhập của quân Mãn Thanh. Nhưng khi nghe tin nhà Minh sụp đổ, sau một thời gian dao động, Ngô Tam Quế quyết định đầu hàng Mẫn Thanh để chống lại Lý Tự Thành. Dùng chính sách chiêu hàng không có kết quả, Lý Tự Thành đem quần đánh Ngô Tam Quế, nhưng bị liên quân Ngô Tam Quế và Mãn Thanh đánh bại, do đó phải rút khởi Bắc Kinh sau 43 ngày làm chủ chốn đế đô này Trên đường rút lui, quân Lý Tự Thành phải nhiều lần đánh trả sự truy kích của quân Thanh. Đến Hổ Bắc, phần lớn lực lượng đã tan rã, Lý Tự Thành cùng 20 quân kị đi cướp lương ăn, bị thôn dân bao vây, thế không thể thoát phải thắt cổ tự tử.

        Còn Trương Hiến Trung ở miền Nam cũng nhanh chóng phát triển lực lượng, không ngừng giành được thắng lợi. Năm 1644, Trương Hiến Trung tiến vào Tứ Xuyên, chiếm được Thành Đô, tự xưng là Quốc vương của nước Đại Tây và lập một triều đình riêng gồm Tả, Hữu Thừa tướng, Lục bộ… chẳng khác gì triều đình phong kiến. Năm 1646, trong một trận chiến đấu với quân Thanh, Trương Hiến Trung bị thương rồi bị quân Thanh bắt và giết chết.

          Như vậy phong trào chiến tranh nông dân cuối Minh đến đây về cơ bản bị thất bại, nhưng lực lượng còn lại quay sang liên minh với triều Nam Minh, tiếp tục chống Thanh trong 20 năm nữa mới hoàn toàn tan rã.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: lich su the gioi